Một câu hỏi tưởng rất đơn giản nhưng hiện nay lại xuất hiện tình huống khá đặc biệt:
📌 VKSNDTC nói: Tranh chấp thừa kế là bất động sản → nộp đơn tại Tòa án nơi có đất.
📌 TANDTC lại hướng dẫn: Tranh chấp thừa kế dù có đất vẫn là tranh chấp thừa kế, không phải mặc nhiên là “tranh chấp bất động sản” → thẩm quyền thuộc Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc.
Cụ thể, tại Văn bản số 1476/VKSNDTC-V9 ngày 23/03/2026, VKSNDTC hướng dẫn rất rõ: tranh chấp chia di sản thừa kế là bất động sản là vụ án có đối tượng tranh chấp là bất động sản, nên thuộc thẩm quyền của Tòa án nơi có bất động sản tranh chấp.
Trong khi đó, TANDTC tại Văn bản số 250/TANDTC-PC ngày 28/04/2026, câu 42 lại đưa ra hướng dẫn hoàn toàn khác. Theo đó, tranh chấp thừa kế tài sản là bất động sản vẫn là “tranh chấp thừa kế”, chứ không phải “tranh chấp bất động sản”. Vì vậy, thẩm quyền không xác định theo nơi có đất, mà xác định theo điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, tức là Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc.
Vậy người dân biết nghe ai? Trong thực tế, chỉ cần xác định sai thẩm quyền:
❌ Hồ sơ có thể bị trả lại
❌ Kéo dài thời gian tố tụng nhiều tháng
❌ Phát sinh tranh chấp thẩm quyền giữa các Tòa án
❌ Thậm chí ảnh hưởng quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự
Điều quan trọng nằm ở việc xác định đúng bản chất quan hệ tranh chấp:
– Nếu tranh chấp ai có quyền sử dụng đất, tranh chấp ranh giới, đòi đất, hợp đồng chuyển nhượng đất… → thường xác định theo nơi có bất động sản.
– Nhưng nếu trọng tâm là xác định hàng thừa kế, di chúc, người được hưởng di sản, phân chia kỷ phần… → bản chất có thể là tranh chấp thừa kế.
Pháp luật đôi khi không phải lúc nào cũng có câu trả lời tuyệt đối rõ ràng. Và khi ngay cả cơ quan hướng dẫn cũng tồn tại cách hiểu khác nhau, người chịu rủi ro đầu tiên thường chính là người dân.


